Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

Bắc vọng kỳ 1 北望其一 • Trông về Bắc kỳ 1 Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Nguyễn Văn Giao » Đạm Như thi thảo

 

 


Bắc vọng kỳ 1 北望其一 • Trông về Bắc kỳ 1

Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Nguyễn Văn Giao » Đạm Như thi thảo

Phiên âm

Bắc vọng kỳ 1

Bắc vọng gia hương lộ kỷ thiên,

Sâm sai bích thụ tiếp trường thiên.

Vân quy cô lĩnh thu triêu vũ,

Điểu lạc hàn mai phá mộ yên.

Cố quận khả năng vô mộng đáo,

Xuân thành hà nhật hữu thư truyền.

Bình sinh nhã phụ đề kiều chí,

Hà sự trường ngâm Trở tĩnh tiên.

Dịch nghĩa

Bài Bắc vọng kỳ 1 mang nỗi lòng hoài hương sâu lắng của người xa xứ. Xin chuyển ý bài thơ sang văn xuôi như sau:

Ngóng về phương Bắc, nơi quê nhà cách xa ngàn dặm, đường về hun hút biết bao giờ mới tới. Trước mắt chỉ thấy những hàng cây xanh thấp cao xen lẫn, nối dài tận chân trời xa thẳm. Mây chiều lững lờ bay về ngọn núi cô quạnh, hòa cùng cơn mưa thu buổi sớm. Chim chóc đáp xuống cành mai lạnh giữa làn khói mờ của buổi hoàng hôn.

Quê cũ biết có còn hiện về trong giấc mộng nữa chăng? Thành xuân nơi cố xứ đến ngày nào mới nhận được thư nhà đưa tin. Suốt đời vốn ôm chí thanh cao như người xưa đề thơ nơi cầu báu, thế mà nay chỉ còn lặng lẽ ngâm dài giữa chốn tịch liêu cô quạnh.

Bài thơ có cảnh sắc đượm buồn nhưng thanh nhã, kết hợp nỗi nhớ quê với tâm sự cô đơn của người ôm hoài bão mà lạc bước giữa tha hương.

HƯƠNG THỀM MÂY CẢM DỊCH

Đất Bắc ngó về vạn dặm xa

Muôn trùng sông núi cảnh mờ nhòa

Mây vờn non thẳm mưa mai hết

Chim đậu cành thu khói lạnh tà

 Giấc mộng gia hương nào lúc tới

Thư nhà cố quận mấy khi qua

Bình sinh chí lớn đề thơ báu

Lặng lẽ đêm dài lại vịnh ngâm

HƯƠNG THỀM MÂY – 17.6.2026


THƠ TỨ TUYỆT HƯƠNG THỀM MÂY

 

 


THƠ TỨ TUYỆT

HƯƠNG THỀM MÂY

1

Hiu hắt quê người mưa phủ bụi

Ngỡ ngàng năm tháng tóc pha sương

Bèo mây tan hợp thân muôn bến

Mưa nắng thăng trầm khách lữ phương

HƯƠNG THỀM MÂY – 17.5.2026

2

Hiên mây trở lại ngắm mưa sa

Mái hạc cành liêu chạnh cảnh nhà

Trước cửa cúc vàng, xa lắc nhớ

Lời xưa bóng mẹ điệu ru à

HƯƠNG THỀM MÂY – 17.5.2026

*

HỌA BÀI 1 – KIẾP LỮ HÀNH

Chiều xứ lạ sương giăng mờ núi

Bâng khuâng tóc bạc nhuốm phong sương

Nổi trôi phận nhỏ theo con nước

Mấy độ truân chuyên bước dặm trường

*

HỌA BÀI 2 – NHỚ MẸ

Chiều nghiêng mái cũ lặng mưa sa

Khói bếp vương vương nhớ nếp nhà

Trước ngõ hoa vàng lay bóng cũ

Ầu ơ còn vọng tiếng ru à

VÔ DANH

 

 

THƠ VỀ THẦY MINH TUỆ - HƯƠNG THỀM MÂY

 

 


THƠ VỀ

THẦY MINH TUỆ

1

Nụ cười hoan hỷ giữa phong ba

Chân giã  giã chân ấy chẳng là

Dục giới chung dòng nào có sá

Ba y một bát viếng muôn nhà

HƯƠNG THỀM MÂY – 17.5.2026

*

2

Buông tay vạn pháp nhẹ như không

Giữ giới vô cầu kệ bão giông

Khất thực muôn nhà tâm diệt ngã

Neo thuyền bến giác, vượt trần hồng

HƯƠNG THỀM MÂY – 17.5.2026

*

HỌA 1 – DẤU CHÂN DU TĂNG

Thong dong cất bước vượt phong ba

Đất bụi đường xa nhẹ tựa là

Một bát gieo duyên nơi quán xá

Ba y giữ đạo khắp gần xa

*

HỌA 2 – TỊNH TÂM

Buông miền vọng tưởng khỏi trần hồng

Lặng giữa nhân gian mặc bão giông

Khất sĩ an nhiên lòng chẳng chấp

Thiền môn một cõi nguyệt soi lòng

VÔ DANH – 17.5.2026

 

 

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2026

NƠI QUÊ - TỨ TUYỆT HƯƠNG THỀM MÂY

 


NƠI QUÊ

Giữ dạ thanh bần an cuộc sống

Gìn hương  mộc mạc lạc đời thay

Sương loang lưng giậu chung trà cạn

Nguyệt tỏa đầu hiên chén tửu đầy

HƯƠNG THỀM MÂY

 


Dạ toạ thư hoài 夜坐書懷 • Đêm ngồi ghi lại nỗi lòng mình Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Nguyễn Văn Giao » Đạm Như thi thảo

 

Dạ toạ thư hoài 夜坐書懷 • Đêm ngồi ghi lại nỗi lòng mình

Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Nguyễn Văn Giao » Đạm Như thi thảo

Phiên âm

Dạ toạ thư hoài

Hồ thỉ sơ tâm bão tráng hoài,

Như hà bất phụ giáng ngô tài.

Khảm kha vị tất phù danh ngộ,

Đắc táng toàn bằng đại tạo bài.

Nguyệt sắc quan tình đương hộ chiếu,

Chung thanh phá tịch độ phong lai.

Khứ niên kim nhật cố viên dạ,

Do kiến hoàng hoa khán vũ khai.

Dịch nghĩa

Bài “Dạ tọa thư hoài” mang tâm sự của người quân tử ôm chí lớn, trải bao thăng trầm nhưng vẫn giữ lòng son với lý tưởng. Xin mạn phép dịch ý bằng văn xuôi như sau:

Đêm ngồi lặng lẽ ghi lại nỗi lòng, ta nhớ thuở ban đầu từng ôm chí tang bồng hồ thỉ, nuôi hoài bão lớn lao của bậc nam nhi. Đã được trời phú cho tài năng thì lẽ nào lại để uổng phí, phụ mất thiên tư ấy.

Đường đời tuy nhiều gập ghềnh trắc trở, nhưng chưa hẳn đó là vì công danh lận đận. Mọi được mất, thành bại trong đời suy cho cùng đều do bàn tay tạo hóa an bài.

Ánh trăng ngoài cửa như thấu hiểu lòng người, soi sáng cả nỗi niềm cô quạnh. Tiếng chuông xa vọng giữa đêm tĩnh mịch, theo làn gió đưa đến khiến không gian càng thêm sâu lắng.

Đêm nay lại gợi nhớ đêm này năm cũ nơi vườn xưa. Ta vẫn thấy hoa cúc vàng hiện ra trong màn mưa, lặng lẽ nở bung như chứng nhân của thời gian và tâm sự con người.

*

Bài thơ có nét trầm hùng xen lẫn cảm khái nhân sinh, đặc biệt hai câu cuối rất giàu dư vị hoài niệm và cô tịch. Hình ảnh “hoàng hoa khán vũ khai” (hoa vàng ngắm mưa nở) gợi một vẻ đẹp lặng thầm, vừa thanh cao vừa man mác buồn.

CẢM DỊCH

Lặng lẽ đêm ngồi nhớ lúc trai

Há đành để phí của trời đây

Gian nan chẳng bởi công danh bạc

Được mất do vì tạo hóa bài

Nguyệt sáng sương gieo bên  bậu cửa

Chuông xa gió vọng giữa ngàn mây

Năm xưa gợi nhớ nơi vườn cũ

Tưởng thấy cúc vàng lặng ngắm mưa

HƯƠNG THỀM MÂY


Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2026

MÙA HẠN. - THƠ HƯƠNG THỀM MÂY

 



MÙA HẠN.

Phượng vỹ khoe màu tươi hạ nắng

Buồn hiu lối nhỏ đường tre vắng

Vang lời bịp gọi bụi cau vàng

Vọng tiếng cu gù lùm mận trắng

Rẫy lúa phơi mình giọt lệ cay

Nương ngô hiện bóng mồ hôi mặn

Đồng khô hồ cạn lắm người lo

Ngóng mỏi trời mưa lòng mãi đắng

Hương Thềm Mây

*

HỌA : CHỜ MƯA

Ve sầu réo rắt ran trời nắng

Xóm nhỏ chiều nghiêng hàng trúc vắng

Khắc khoải chim kêu phía bãi bồi

Bâng khuâng gió lạc bên vườn trắng

Ao sen héo lá mắt buồn cay

Thửa đậu cong thân hồn mỏi mặn

Dõi mãi tầng không đợi nước về

Bao người thao thức niềm canh cánh.

VÔ DANH

*

LỜI BÌNH BÀI MÙA HẠN

Bài thơ “MÙA HẠN” khắc họa rất rõ nét bức tranh quê trong những ngày nắng hạn gay gắt. Mở đầu là sắc phượng đỏ rực của mùa hè, nhưng phía sau vẻ tươi tắn ấy lại là không gian hiu quạnh và nỗi nhọc nhằn của người nông dân. Những hình ảnh như “đường tre vắng”, “bịp gọi bụi cau vàng”, “cu gù lùm mận trắng” tạo nên âm thanh và màu sắc rất thôn quê, khiến bài thơ giàu sức gợi và gần gũi.

Hay nhất là hai câu:

“Rẫy lúa phơi mình giọt lệ cay

Nương ngô hiện bóng mồ hôi mặn”

Hình ảnh nhân hóa làm cho ruộng đồng như mang nỗi đau của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt. Cái “lệ cay” của lúa và “mồ hôi mặn” của ngô vừa thực vừa giàu cảm xúc, gợi sự lam lũ của người quê giữa mùa hạn kéo dài. Kết bài khép lại bằng nỗi mong chờ cơn mưa, để lại dư âm trĩu nặng nhưng chân thành.